Thứ ba, ngày 18 tháng 12 năm 2018
Thứ ba, ngày 18 tháng 12 năm 2018
Truyện ngắn Hoa chè
Cập nhật lúc 05:23 ngày 31/07/2018
Kể từ ngày biết mình chớm mang khối u ác tính, tinh thần ông Lãng suy sụp hẳn, sức vóc cường tráng của người lính công binh ngày nào vốn đã hao mòn qua từng lần vết thương tái phát, giờ lại càng thêm tiều tụy, cháu con, đồng đội luôn bên cạnh động viên, nhưng không khí gia đình xem chừng sầu não lắm.
Trong căn phòng bệnh ngột ngạt mùi thuốc men, kim truyền, kế bên giường, một bệnh nhân kém ông Lãng chừng vài tuổi có gương mặt hốc hác với bộ đầu chọc lóc, kết quả của những đợt truyền hóa chất dài ngày, nghe đâu ông ta là lính lái xe Trường Sơn khi xưa, nay sinh sống bằng nghề xem tướng.
- Đời phải lạc quan lên chứ bác, còn sống được ngày nào phải ráng mà sống, tinh thần người lính là không được lùi bước, nhất là bệnh của bác mới chỉ ở giai đoạn đầu. Lạc quan là một liều thuốc tiên đấy bác ạ - Ông ta hướng về phía ông Lãng với một nụ cười meo méo.
- Ôi dào, trước sau gì cũng về với tổ tiên với các cụ thôi, cuộc đời tôi thôi thế cũng là toại nguyện, ông Lãng thở dài nói.
- Bác đừng tiêu cực thế, em nhìn bác còn hậu vận lắm, bác được mấy cháu – ông thầy tướng chuyển hướng câu chuyện.
- Tôi được ba, một trai hai gái, nội ngoại đủ cả rồi. Cuộc đời binh nghiệp đã cuốn thời trai trẻ của tôi đi, sau hòa bình lấy vợ hai năm mới đẻ được thằng lớn, kể cũng còn may, chiến tranh chưa lấy đi của mình tất cả, ông Lãng trả lời.
- Đó chưa phải là thằng cả của bác đâu, bác còn một thằng cả nữa, nhiều tuổi hơn cơ…! tay thày tướng thủng thỉnh đáp trong lúc vừa ngồi dạy sau khi cô điều dưỡng rút ống kim truyền khỏi tay…
- Hả, ông nói sao? Hơi giật mình, thảng thốt về lời phán chẳng ra đùa chẳng ra thật đó, ông Lãng đăm chiêu nhìn xa xăm về phía cửa sổ, nơi hàng cây chè đang mùa trổ những bông hoa trắng dịu nhẹ. Rặng chè mới được ông Giám đốc Bệnh viện quê miền Trung du vốn cũng là bạn một thời chiến đấu với ông Lãng mang xuống trồng từ vài năm trước, ông ấy bảo, mỗi lần nhìn thấy cây chè là để nhớ về quê hương…
***
Mới đó là đã hơn 40 năm, cái ngày anh cùng đơn vị có 3 tháng huấn luyện tại vùng chè bỗng chốc tràn về. 
Nông trường chè Chí Linh những năm cả nước đang sôi sục tinh thần “tất cả cho tiền tuyến” thật sôi động và náo nhiệt. Những tốp nữ xã viên tươi rói ngày đêm hối hả lao động sản xuất. Những ngày đơn vị bộ đội của Lãng về vùng chè huấn luyện có lẽ là những ngày vui nhất của các chị.
Cứ hết thời gian huấn luyện, các anh lại tranh thủ giúp chị em nông trường chăm chè, hái chè, tình quân dân gắn bó, bịn rịn. Chị em thời chiến, cứ nhìn thấy cánh đàn ông, nhất là lại là các anh lính cụ Hồ thì quý trọng lắm, họ khao khát, trắng trong, ao ước và cái cảm giác như lúc nào cũng tôn thờ và sẵn sàng dâng hiến cho những anh lính tân binh chỉ dăm ba hôm nữa thôi là hành quân vào miền Nam làm nhiệm vụ thiêng liêng cao cả.
Nụ ngày đó là một xã viên kiêm kế toán viên của nông trường có làn da trắng trẻo, ánh mắt thoảng buồn đã để lại trong Lãng nhiều ấn tượng hơn cả. Lãng biết Nụ cảm mến mình từ ngày mới về làng hội quân. Nụ cũng nhận thấy sự rung động trong tâm hồn anh Tiểu đội trưởng vốn hiền lành, với bả vai nở nang, cao lớn, vẻ đẹp trong sáng của một thanh niên thời chiến trận...
Vào đúng cái đêm hôm trước ngày cả đơn vị được lệnh hành quân bổ sung cho tiền tuyến, cơn mưa bất chợt như trút nước, làm dịu mát cái nắng oi nồng của đồi chè mùa hạ. Đang lang thang ngắm đồi chè về đêm, như muốn tạm biệt vùng đất địa linh để sớm mai lên đường, cơn mưa vội vã đã đẩy Lãng phải tấp tạm vào nhà kho của nông trường để trú cơn.
Như có thần giao cách cảm, anh đang lấy tay gạt nước trên mặt thì Nụ cùng ào tới, không hẹn mà gặp, cuộc gặp định mệnh giữa hai người.
- Sao em lại cũng ở đây.
- Nghe sấm chớp, biết trời sắp mưa, em đi kiểm tra các rãnh thoát nước trên nông trường…
Cơn mưa vô tình làm ướt sũng áo Nụ, tất cả sự căng tràn của người con gái mà anh cảm mến hiện ra trước mặt Lãng, phải mất một vài khoảng khắc anh mới tiếp tục:
- Ngày mai bọn anh lên đường, chắc chắn sẽ nhớ mãi những ngày trên nông trường. Anh nói mà chính mình cũng không nhận ra chất giọng ồn ào hàng ngày của mình.
- Thế nhớ mỗi nông trường thôi à. Nụ bẽn lẽn cười e ấp, run rẩy, đôi mắt ngập tràn ngọn lửa yêu thương, nhìn lâu, yếu đuối, đòi hỏi được nương tựa, chở che…
Cô ngồi xuống bên cạnh anh, một suy nghĩ hấp hối cùng với bản năng tự vệ ngọt ngào của Nụ khiến Lãng chấp chới vươn tay ra chụp vội lấy cái vầng sáng ấy để mong đừng tan xác…
Khoảnh khắc bồng bềnh đó, hai con người trẻ trung chỉ còn kịp trải vội miếng vải mưa xuống nền đất nhà kho, rồi tan biến, không hay biết gì nữa… Cơn mưa tạnh từ lúc nào họ cũng chẳng hay, ánh trăng cao vót đình đầu, họ cùng ngồi dậy, ngỡ ngàng, hiểu hết thảy nhưng cũng thật sự không hiểu gì. Trên bả vai anh chi chít những hình răng rớm máu. Trên tấm áo Nụ cũng thoáng vương một vệt mầu đỏ tươi. Cô khóc. Nhìn đăm đăm vào đấy mà khóc ngon lành…
Còn anh, đứng dậy như trời trồng, mặt mày nhăn nhó khổ sở với cái vẻ của một người vừa làm nên một tội lỗi tày đình… 
Nụ nói trong nước mắt, anh đừng bỏ em nhé. Dù thế nào em cũng chờ anh, lành lặn trở về với em, anh nhé…
Cầm tay Nụ mà lòng nặng chĩu: Chờ anh nhé, nhất định anh sẽ trở về, sẽ thưa chuyện với bố mẹ để cưới em…!
Thế rồi cuộc chiến ngày càng dữ dội đẩy anh đi xa hơn vào những vùng tuyến lửa mạn trong. Anh không còn thời gian nhớ đến cô, nhớ đến cả mình, và ở cô, cũng không một mầu tin, một dòng chữ gọi là bay đến anh… Thế là xong. Vết thương được kéo da non nhanh chóng cứ như một trò đùa.
Hòa bình lặp lại, anh hao đi vài kilo, nhận thêm vài gram thép Mỹ vào thân thể với chế độ thương tật hạng 2. Anh chuyển ngành về Hải Phòng nhận công tác tại một đơn vị đóng tàu. Năm 77 anh lập gia đình, hai năm sau liền một lúc sinh 3 đứa trong thời kỳ khó khăn, bao cấp... Cuộc sống trôi nhanh với cơm áo, gạo tiền, lo toan, tính toán làm anh không có lúc nào nhớ lại cái nông trường chè với người con gái có nước da trắng hồng, nụ cười hiền dịu xưa kia nữa…
*** 
- Chú Diệu ạ, tôi nhớ lại rồi, có lẽ cha thầy tướng kia nói đúng, tôi có nên đi tìm Nụ không? Ông Lãng nói như để tìm một sự chia sẻ sau khi trải lòng với người em trai thân thiết.
- Anh phải tìm, nhất định phải đi tìm và nếu tìm được, phúc nhà mình càng to, anh không phải dằn vặt, mình không biết chứ không phải là biết nhưng cố tình lờ đi…
- Tôi chỉ sợ mẹ thằng Tự không đồng ý, lại làm toáng lên. Mà nếu có tìm ra Nụ, liệu Nụ có tha thứ cho tôi, mà chắc gì đêm hôm ấy Nụ đã…
- Không nhưng gì hết, việc này anh cứ để em. Chiến tranh mà, mọi người sẽ rộng lượng thôi, hơn nữa anh đang bệnh tật, có khi đây là liều thuốc tiên giúp anh chiến thắng chính mình...!
*** 
Nửa tháng sau câu chuyện đó, khi sức khỏe dần ổn trở lại, anh em ông Lãng lên đường về vùng Chí Linh, sau khi đã làm công tác tư tưởng với bà chị dâu, các cháu và cả dòng họ.
Trong những năm 70, 80 của thế kỷ trước nông trường chè Chí Linh nổi tiếng một thời trong ngành chè Việt Nam, thương hiệu chè Thanh Mai với chất lượng tốt đã ăn sâu vào tâm trí của người dân trong cũng như ngoài tỉnh. Giờ đây, cây chè Thanh Mai đã dần bị mai một, cây vải, cây nhãn đã được thay thế… Con người và cảnh vật nơi đây đã thay đổi quá nhiều, ông Lãng dường như không còn nhận ra nữa…
Suốt vài ngày đường loanh quanh vùng ký ức xưa, hỏi thăm không biết bao nhiêu người về manh mối của Nụ kế toán nông trường cùng những xã viên của hơn 40 năm về trước. Cuộc tìm kiếm như đi vào ngõ cụt. Anh em ông Lãng đành về lại Hải Phòng.
Lần về Chí Linh thứ hai vẫn không có kết quả. Nhưng đến lần thứ ba, trong câu chuyện với bà bán nước đầu làng ngoài 70 tuổi vốn cũng là xã viên cùng thời với Nụ ngày xưa, vừa nghe tiếng anh em ông Lãng hỏi thăm tên, bà ta bỗng nói ngay: “Ông về đây tìm con đúng không, sao mà giống thế…”, câu nói của bà bán nước đã nhen nhóm hy vọng về một ngày đoàn tụ không xa trong tâm trí anh em ông Lãng.
***
Đã nhiều lần Thành hỏi mẹ về cha mình, anh cũng nhiều lần cất công về vùng đất Ân Thi tìm cha. Nhưng anh chưa thể tìm ra manh mối cha mình, đang định nhờ đến chương trình: “Như chưa hề có cuộc chia ly”, thì niềm vui đoàn tụ bất ngờ đã đến với anh và gia đình.
Bữa cơm đoàn viên ấm cúng, rộn ràng, chứa chan nước mắt đã làm ông Lãng, bà Nụ cùng cả nhà xích lại gần nhau hơn, họ cùng cảm thông với nhau, tất cả do chiến tranh để lại, cái chính là anh em, bố con đã tìm về với nhau.
- Sao ngày đấy bà không viết thư cho tôi? Ông Lãng hỏi sau bữa cơm chiều.
- Chiến tranh, loạn lạc…
Ngày đó, sau khi anh đi, em đã chịu nhiều dị nghị, nông trường phải làm cả mấy cuộc họp để tìm cho ra bố của đứa bé trong bụng em… Không chịu được dư luận, em đã xin nghỉ việc về quê, đón mẹ con em về làng, bố mẹ cũng phải sống trong định kiến lúc bấy giờ một thời gian dài… Rồi thì chiến tranh kết thúc, hòa bình lập lại vài năm cũng không có tin tức gì của anh, bố mẹ giục em đừng để đánh mất tuổi thanh xuân…
Số em vất vả, người chồng sau này cũng sinh được 1 cậu con trai, nhưng anh ấy cũng hy sinh trong biên giới Tây Nam, vậy là một nách em nuôi dạy hai con trưởng thành đến giờ…
Nguyễn Đức Minh