Người lao động và doanh nghiệp “Những quy tắc cần tuân thủ kỷ luật sa thải”
Thứ hai, 14/09/2026 - 14:03
Người lao động và doanh nghiệp “Những quy tắc cần tuân thủ kỷ luật sa thải”
Anh Nguyễn Văn H làm việc tại Công ty X. Ngày nghỉ lễ, anh H có rủ mấy anh em trong Công ty về nhà ăn uống rồi đánh bạc, sau đó bị công văn Phường bắt quả tang và xử phạt vi phạm hành chính. Công an gửi thông báo về Công ty X và sau đó Công ty X xử lý kỷ luật sa thải anh H với lý do đánh bạc. Anh H cho rằng anh đánh bạc ở nhà chứ không đánh bạc tại Công ty nên Công ty không có quyền xử lý kỷ luật anh, hơn nữa, hành vi này đã được cơ quan công an xử lý rồi. Vì vậy câu hỏi đặt ra như sau:
a) Việc Công ty X xử lý kỷ luật anh H có đúng quy định của pháp luật không ?
b) Giả sử trường hợp Công ty X xử lý kỷ luật sa thải anh H là không đúng thi anh H cần phải làm gì ?
Trả lời:
Căn cứ Điều 125, Bộ luật lao động năm 2019 quy định hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau đây:
1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;
2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;
3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật lao động năm 2019.
4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dòn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc làm không có lý do chính đáng. Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động”.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 125 nêu trên, hành vi “đánh bạc tại nơi làm việc” là hành vi áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải. Tuy nhiên, anh H có hành vi đánh bạc trong thời gian nghỉ lễ (Ngoài giờ làm việc) và tại nhà (không phải nơi làm việc) và đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, Công ty X xử lý kỷ luật sa thải anh H là không đúng quy định của pháp luật.
Theo Điều 73, Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định người bị xử lý kỷ luật lao động nếu thấy không thỏa đáng thì có quyền khiêu nại với người sử dụng lao động. Trong trường hợp người sử dụng lao động quyết định xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải trái quy định của pháp luật thì ngoài nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của Chính phủ về giải quyết khiếu nại tại Mục 2 Chương XIV của Bộ luật lao động năm 2019 thì người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện quy định tại Điều 41 của Bộ luật lao động năm 2019 quy định Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:
1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng lương theo hợp đồng lao động.
Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sừ dụng lao động.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trong trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại Khoản 2 Điều 36 của Bộ luật lao động năm 2019 thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả theo quy định tại Khoản 1 Điều 41 Bộ luật lao động 2019 người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ luật lao động này, để chấm dứt hợp đồng lao động.
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại Khoản 1 Điều 41 Bộ luật lao động 2019 và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật lao động 2019, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp động.
Như vậy, căn cứ quy định nêu trên, anh H có quyền khiếu nại với Ban lãnh đạo Công ty và trong trường hợp Ban lãnh đạo Công ty không giải quyết thỏa đáng anh H có quyền thực hiện khiếu nại trong lĩnh vực lao động hoặc giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự quy định Mục 2 Chương XIV của Bộ luật lao động năm 2019.
Lê Tâm