[In trang]
Đóng bảo hiểm thất nghiệp bao lâu mới được hưởng trợ cấp thất nghiệp?
Thứ ba, 24/02/2026 - 14:30
Đóng bảo hiểm thất nghiệp bao lâu mới được hưởng trợ cấp thất nghiệp?
Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là một trong những chính sách an sinh quan trọng, giúp người lao động bù đắp một phần thu nhập, ổn định cuộc sống trong thời gian chưa tìm được việc làm mới. Tuy nhiên, không ít người lao động vẫn băn khoăn: phải đóng bảo hiểm thất nghiệp bao lâu mới được hưởng trợ cấp và tiền lương làm căn cứ đóng BHTN tối đa là bao nhiêu? Những quy định mới tại Luật Việc làm năm 2025 đã làm rõ các nội dung này.
Điều kiện để được hưởng trợ cấp thất nghiệp
Theo Điều 38 Luật Việc làm 2025, người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định.
Thứ nhất, người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt việc làm theo đúng quy định của pháp luật. Trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hoặc nghỉ việc khi đã đủ điều kiện hưởng lương hưu thì không thuộc diện hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Thứ hai, về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, người lao động phải đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong khoảng thời gian nhất định trước khi chấm dứt hợp đồng. Cụ thể, đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên, yêu cầu là đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trong vòng 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng.
Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 12 tháng, điều kiện được nới rộng hơn về mốc thời gian, theo đó phải đóng đủ 12 tháng trở lên trong vòng 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, người lao động cần tối thiểu 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, nhưng thời gian “tính ngược” để xem xét đủ điều kiện sẽ khác nhau tùy loại hợp đồng lao động.
Không ít người lao động vẫn băn khoăn, phải đóng bảo hiểm thất nghiệp bao lâu mới được hưởng trợ cấp và tiền lương làm căn cứ đóng BHTN tối đa là bao nhiêu?
Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp
Ngoài thời gian đóng, mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp cũng là nội dung được người lao động đặc biệt quan tâm, bởi đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức trợ cấp được hưởng sau này.
Theo Điều 34 Luật Việc làm 2025, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp được xác định tùy theo chế độ tiền lương mà người lao động đang áp dụng.
Đối với người lao động thuộc đối tượng hưởng chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, tiền lương làm căn cứ đóng BHTN là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, kèm theo các khoản phụ cấp như phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có).
Đối với người lao động hưởng lương theo chế độ do người sử dụng lao động quyết định, tiền lương làm căn cứ đóng BHTN là tiền lương tháng ghi trong hợp đồng lao động. Mức này bao gồm tiền lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Trường hợp người lao động ngừng việc nhưng vẫn được trả lương bằng hoặc cao hơn mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất, thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ là mức lương thực tế được hưởng trong thời gian ngừng việc.
Một điểm quan trọng mà người lao động cần nắm rõ là tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp không phải là không có giới hạn. Luật Việc làm 2025 quy định rõ: tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp cao nhất bằng 20 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng do Chính phủ công bố tại thời điểm đóng BHTN.
Có thể thấy, việc hiểu đúng và đầy đủ các quy định về thời gian đóng, điều kiện hưởng cũng như căn cứ tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ giúp người lao động chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Trong bối cảnh thị trường lao động còn nhiều biến động, bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục là “điểm tựa” quan trọng, giúp người lao động yên tâm hơn khi không may rơi vào tình trạng mất việc làm.